12:42 +07 Thứ tư, 24/07/2019

Menu

Liên kết trong tỉnh

UBND tỉnh Thanh Hoá
Sở Y tế Thanh Hóa

Liên kết trong nước

Bộ Y Tế
Benh vien Viet Duc
Benh vien bach Mai

Trang nhất » Tin Tức - Sự kiện » Nghiên cứu khoa học » Cận lâm sàng

Banner chúc mừng năm mới (giữa trang)

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM NÃO TẠI KHOA HỒI SỨC CẤP CỨU, BỆNH VIỆN NHI THANH HÓA NĂM 2015

Thứ năm - 15/12/2016 10:53
TÓM TẮT Mục tiêu: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh Viêm não điều trị tại khoa HSCC năm 2015. Đánh giá bước đầu kết quả điều trị bệnh viêm não.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Có 33 bệnh nhân viêm não được điều trị tại khoa HSCC bệnh viện Nhi Thanh Hóa từ 1/2015 đến 12/2015. Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu, mô tả loạt ca bệnh
Kết quả: Tỷ lệ nam/nữ = 1,2/1. Độ tuổi  < 1 chiếm 18,18%; từ 1- 6 tuổi 39,4%; 7- 15 tuổi chiếm 42,42%. Bệnh đều có sốt, thời gian sốt trung bình là 3,3 ngày. Co giật chiếm 54,54%, có thay đổi tri giác từ lơ mơ, li bì đến hôn mê. Xét nghiệm: bạch cầu trung bình là 17,9 G/l; CRP trung bình 34,6mg/l; procalcitonin là 12,9ng/ml. Dịch não tủy trung bình có 202 tế bào, protein dịch là 0,8mg/l; glucose dịch 3,6mmol/l. Do VNNB chiếm 24,24%; do virus khác là 21,21%; không tìm thấy căn nguyên 54,55%. BN thở oxy 67,7%, thở máy 24,2%. Điều trị bệnh thường kết hợp từ 2 loại kháng sinh trở lên, thời gian điều trị trung bình 18,4 ngày, thời gian điều trị hồi sức 11,7 ngày. Khỏi bệnh để lại di chứng chiếm 57,58%; có15,15%  bn nặng hơn gia đình xin về tử vong. Chậm phát triển tinh thần vận động  24,24%, bại liệt 12,13%; bại não 3,03%.
Kết luận: Viêm não là một tình trạng viêm cấp tính của nhu mô não, biểu hiện lâm sàng thường có sốt, co giật, rối loạn tri giác; Cận lâm sàng có biểu hiện nhiễm trùng rõ, thay đổi sinh hóa dịch não tủy và có thể thấy hình ảnh tổn thương trên CT. scanner;
Điều trị kéo dài, diễn biến xấu và có nguy cơ tử vong cao (15,15%); Khỏi bệnh dễ để lại di chứng.
Abstract
Objectives:  The clinical, subclinical encephalitis disease treated at the ICU 2015. Evaluation the initial results of the treatment of encephalitis
Subjects and methods: There are 33 patients with encephalitis were treated at the ICU of  Thanh Hoa  Hospital Peadiatric from 1/2015 to 12/2015. Research Methodology: retrospective, descriptive case series
Results: The proportion of male / female = 1.2 / 1. Age <1 accounts for 18.18%; 39.4% from 1- 6 years old; Accounting for 42.42% 7- 15 years old. Disease are fever, fever average time of 3.3 days. Expression seizures accounted for 54.54%, a change of perception from drowsiness, coma li packaging. Tests: WBC average 17.9 G / l; The average CRP 34,6mg / l; procalcitonin is 12,9ng / ml. CSF average of 202 cells, protein translation was 0.8 mg / l; Translation 3,6mmol glucose / l. Accounting for 24.24% due to JE; Other viral is 21.21%; etiology is not found 54.55%. BN 67.7% oxygen, 24.2% ventilated. Treatment is often a combination of 2 or more antibiotics, the average treatment time of 18.4 days, the duration of treatment of 11.7 days resuscitation. Cured sequelae accounted 57.58%; 15,15%  heavier patients ask about death. Mental retardation athletes 24.24%, 12.13% polio; 3.03% of cerebral palsy.
Conclusions: : Encephalitis is an acute inflammation of the brain parenchyma, clinical manifestations often fever, seizures, altered mental status; Subclinicalinfections clear expression, biochemicalchanges and can see lesions on CT images;
Prolonged treatment, deteriorate and have higher mortality risk (15.15%); Easy to cure sequelae
I. ĐẶT VẤN ĐỀ: 
          Viêm não (VN) là một tình trạng viêm cấp tính của nhu mô não, nhiều nguyên nhân gây nên nhưng phần lớn là do virus.[1][3] Bệnh thường khời phát cấp tính diễn biến nặng, tỷ lệ tử vong và di chứng khá cao có thể lên tới 10-15%; hay gặp ở trẻ em với các độ tuổi khác nhau.[6][7]
          Theo thống kê, trên cả nước trung bình mỗi năm có từ 2.500-3000 ca VN, Hiện tại, Việt Nam chưa có thuốc và chưa có văcxin phòng chống các loại virus này nên số lượng BN mắc bệnh VN vẫn còn cao. [3][5]
           Bộ Y tế đã có những cập nhật, hướng dẫn cụ thể về chẩn đoán và điều trị theo dõi bệnh nhân VN. Hiện nay, tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa chưa có nghiên cứu nào cụ thể đánh giá tình hình kết quả điều trị bệnh nhân VN và các di chứng nặng của bệnh VN gây nên. Chính vì mục đích trên, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh viêm não tại khoa Hồi sức cấp cứu – Bệnh viện nhi Thanh Hóa với mục tiêu sau:
          1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân viêm não điều trị tại khoa HSCC.
          2. Đánh giá bước đầu kết quả điều trị bệnh viêm não tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa.
 
 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN:
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 33 bệnh nhân chẩn đoán VN  tuổi < 15 điều trị tại khoa HSCC bệnh viện Nhi Thanh Hóa từ tháng 1/ 2015 đến tháng 12/2015.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu, mô tả loạt ca bệnh.
 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:       
          Trong 33 bệnh nhân nghiên cứu có tỷ lệ nam / nữ  = 1,2/1. Độ tuổi  < 1 chiếm 18,18%; từ 1- 6 tuổi 39,4%; 7- 15 tuổi chiếm 42,42%.
3.1. Lâm sàng:
          Các BN đều có sốt với mức độ khác nhau.Đa số sốt cao chiếm 48,48%. Sốt rất cao có 5 BN (15,16%); Sốt nhẹ và vừa 12 BN (36,36%). Thời gian sốt trung bình 3,3 ngày, ngắn nhất 1 ngày và dài nhất 6 ngày
Bảng 1: Biểu hiện co giật
                           
  Co giật                               Số lượng
 
 
N
 
Tỷ lệ %
 

 
Khu trú 8 24,24
Toàn thân 10 30,30
               Không 15 45,46
               Tổng 33 100
                    Nhận xét: BN có biểu hiện cho giật chiếm ưu thế (54,24%), co giật khu trú chiếm 24,24%, co giật toàn thân chiếm 30,30%     
          Về tri giác: Đa số BN nhập viện với tình trạng lơ mơ, li bì . Tri giác V/AVPU (GCS 9-11đ) chiếm 51,51 % (17 BN).
3.2. Cận lâm sàng.
Bảng 2: Xét nghiệm đánh giá tình trạng nhiễm trùng
                       Chỉ số
Xét nghiệm
 
N
 
Nhỏ nhất
 
Lớn nhất
 
Trung bình
Bạch cầu ( G/l) 33 11,36 34,6 17,9
CRP (mg/l) 33 0,98 130 34,6
Proccalcitonin (ng/ml) 33 0,08 100 12,9
          Nhận xét: Các chỉ số XN đánh giá tình trạng nhiễm trùng đều tăng: Bạch cầu trung bình 17,9 G/l; CRP trung bình 34,6 mg/l; procalcitonin trung bình 12,9 ng/m.
 
 
Bảng 3: Xét nghiệm đánh giá DNT
                  Chỉ số
DNT
 
N
 
Nhỏ nhất
 
Lớn nhất
 
Trung bình
Tế bào (/mm3) 33 5 249 202
Protein (mg/l) 33 0,1 3,65 0,8
Glucose (mmol/l) 33 0,6 6,2 3,6
Nhận xét: XN DNT: trung bình có 202 tb/mm3, protein 0,8 mg/l; glucose 3,6 mmol/l.
Các xét nghiệm tìm nguyên nhân viêm não: không tìm thấy căn nguyên gây bệnh chiếm tỷ lệ cao 54,55%. Do virus VNNB 24,24%, do virus khác  21,21%.
Hình ảnh CT Scanner sọ não: không tổn thương chiếm 81,82%; có hình ảnh tổn thương là 6 chiếm 18,18%.
3.3. Kết quả điều trị
BN vào với tình trạng suy hô hấp từ vừa đến nặng. BN phải thở Oxy chiếm tỷ lệ cao nhất 67,7%, 24,2% (8BN) phải thở máy.
-         Điều trị hai loại KS chiếm 48,48%; từ ba loại chiếm 42,42%
-         Thời gian điều trị trung bình 18,4 ngày, dài nhất là 88 ngày. Thời gian điều trị phòng hồi sức trung bình 11,7 ngày, dài nhất 88 ngày
-         BN khỏi để lại di chứng chiếm 60,61%; nặng hơn xin về chiếm 15,15%. Có 6,06%  không thay đổi do chuyển Hà Nội không đánh giá được.
-         Tỷ lệ BN để lại di chứng chậm PTTTVĐ chiếm 24,24%, BN bại liệt chiếm 12,13%, bại não chiếm 3,03%.
IV. BÀN LUẬN:
           Bệnh VN gặp ở mọi lứa tuổi, dưới 1 tuổi chiếm 18,18%; từ 1 – 6 tuổi chiếm 39,4%; từ 7 – 15 tuổi chiếm 42,4%. Virus VN có thể gây bệnh ở cả 2 giới, trong nghiên cứu tỷ lệ nam và nữ gần bằng nhau   (Nam/ nữ = 1,2/1), phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây [7].
Tất cả các bệnh nhân đều có biểu hiện sốt, trong đó sốt nóng liên tục chiếm 33,33%, sốt nóng theo cơn chiếm 66,67%. Sốt ở mức độ khác nhau, chủ yếu sốt cao 48,58%, sốt vừa 24,24%, và có đến 15,16 %  sốt rất cao, tức là nhiệt độ có lúc lên tới > 41ᴼC, nguy cơ dẫn tới tình trạng rối loạn thân nhiệt và các biến chứng. [6]. Bản thân virus VN không gây nên sốt kéo dài, thường bệnh nhân chỉ sốt trong thời gian khởi phát (3 – 4 ngày), và giảm trong thời gian toàn phát. Trong nghiên cứu thời gian sốt trung bình là 3.3 ngày, phù hợp với đặc điểm bệnh VN. Đa số BN vào viện có co giật với đặc điểm khác nhau, co giật toàn thân chiếm 30.3%, co giật khu trú 24,24%. Co giật  đồng thời liên quan đến tình trạng thay đổi tri giác. Tri giác V/AVPU là 51.51%, P/AVPU chiếm 21.21%, U/AVPU chiếm 9,1%. Điều này nói lên tỷ lệ bệnh nhân VN sau khi được điều trị khỏi để lại di chứng khá cao.
Bệnh chủ yếu do virus nên xét nghiệm bạch cầu không tăng cao hoặc có khi không tăng. Do đó, để đánh giá chính xác tình trạng bội nhiễm cần thêm các xét nghiệm khác như CRP và Procalcitonin. Trong nghiên cứu, bạch cầu trung bình là cao 17.9 G/l, CRP trung bình là 34.6 mg/l (bình thường ≤ 6 mg/l) lớn nhất là 130 mg/l, là các xét nghiệm đánh giá tình trạng viêm nhiễm thông thường, gợi ý nhưng không chính xác và kết quả thường muộn. Procalcitonin trung bình là 12.9 ng/ml, cao nhất là 100 ng/ml (bình thường < 0.3 ng/ml). Xét nghiệm Procalcitonin có ý nghĩa đánh giá tình trạng và nguy cơ nhiễm trùng trong các bệnh nhân mắc VN là rất lớn, điều đó cần phải tích cực khẩn trương phòng chống bội nhiễm, cách ly, phân luồng bệnh nhân hợp lý.
Xét nghiệm chẩn đoán chắc chắn bệnh VN dựa vào dịch não tủy. Thành phần dịch não tủy trung bình có 202 tb/mm3, cao nhất 249 tb/mm3. Tỷ lệ Protein trong dịch trung bình là 0.8mg/l, glucose dịch trung bình là 3,6 mmol/l. [6] Điều này tương ứng với đặc điểm cận lâm sàng của bệnh VN nói chung và các nghiên cứu trước đây.
Tỷ lệ bệnh nhân tìm thấy virus VNNB là 24.24% và virus khác (HSV) là 21.21% chiếm tỷ lệ khá cao. .[5][6] Vì mới chỉ có vacxin phòng VNNB, mặt khác người dân chưa được tuyên truyền rộng dãi. Điều này gây nên nhiều trẻ không được tiêm phòng hoặc tiêm phòng nhưng chưa đầy đủ chiếm tỷ lệ cao.. Do virus VN làm tổn thương tế bào não dẫn đến tổn thương trung tâm hô hấp. Vì vậy tỷ lệ BN phải hỗ trợ hô hấp chiếm tỷ lệ cao. Bệnh nhân thở oxy chiếm 67.7%, BN thở máy chiếm 24,2%; có 30,3%  BN không phải hỗ trợ hô hấp. Có những trường hợp phải hỗ trợ cả oxy và phải thông khí nhân tạo kéo dài, phụ thuộc hoàn toàn vào máy thở. Để lại di chứng và biến chứng nặng nề.
Bệnh VN do virus gây bệnh nên không có kháng sinh phù hợp ngoại trừ VN do Herpes. Hơn nữa tỷ lệ kháng sinh ngấm vào màng não thấp nên phải dùng liều cao và kết hợp nhiều loại kháng sinh khi có bội nhiễm đi kèm. Thường là kết hợp hai nhóm KS chiếm 48,5%, từ ba loại trở lên chiếm tỷ lệ khá cao 42,4%. [6]Điều này chứng tỏ việc sử dụng KS còn chưa hợp lý và tỷ lệ đề kháng kháng sinh tăng cao rất đáng lo ngại.
Thời gian điều trị bệnh kéo dài, điều trị tại khoa cũng như ở hồi sức dài nhất là 88 ngày. Thời gian điều trị trung bình là 18,4 ngày và điều trị hồi sức trung bình là 11,7 ngày. [6]Chính vì vậy nên cần phải phân luồng điều trị, cách ly và đề phòng nhiễm khuẩn cần được chú trọng
Kết quả điều trị khỏi bệnh để lại di chứng chiếm tỷ lệ cao 57.58%, BN khỏi chiếm 18,18%. Trong khi đó BN nặng hơn và không thay đổi lần lượt là 24,24% và 3,02%. Những BN nặng hơn thường là những BN có di chứng nặng nề, phải thở máy dài ngày phụ thuộc hoàn toàn máy thở. Trong thời gian nằm viện bị bội nhiễm làm tình trạng nặng tăng lên nên giải thích gia đình xin về tử vong. Trường hợp không thay đổi có 2 BN do gia đình xin chuyển viện nên không đánh giá được.
Virus VN gây bệnh trực tiếp lên tế bào não nên toàn bộ trung tâm có não chỉ huy đều bị ảnh hưởng. Cụ thể là trung tâm hô hấp, vận động, lời nói... bị tổn thương nhiều để lại di chứng nặng nề ảnh hưởng đến đời sống tinh thần vận động sau này của bệnh nhân cũng như tâm lý người nhà. Trong số BN nghiên cứu có đến 24,24% trường hợp để lại di chứng chậm phát triển tinh thần vận động, 12,13% BN bại liệt và có 3,63% BN để lại di chứng bại não
V. KẾT LUẬN:
   1. Lâm sàng, cận lâm sàng: Bệnh VN vào viện thường có sốt từ nhẹ đến nặng,  với đặc điểm khác nhau sốt cao liên tục hay từng cơn.
          BN có thể có co giật hay không, thường có co giật chiếm ưu thế: biểu hiện co giật toàn thân hay khu trú.Trẻ vào viện đều có thay đổi tỉ giác từ lơ mơ, li bì đến hôn mê.
           XN có giá trị để chẩn đoán bệnh VN là XN dịch não tủy
           Procalcitonin là XN có giá trị để chẩn đoán tình trạng nhiễm trùng và tiên lượng đánh giá điều trị.
   2. Kết quả điều trị: Thời gian điều trị trung bình tương đối dài 18,4 ngày; Bệnh diễn biến nặng nguy cơ tử vong cao (15,15%); Số bệnh nhân khỏi bệnh nhưng để lại di chứng chiếm tỷ lệ cao.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ y tế (2006) Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí bệnh viêm não cấp do virus ở trẻ em QĐ-BYT số 2322
2. E.Pilly (2002) “ Infections virales : Arboviroses “ Maladies infectieuses et tropicales, page 433- 435.
 3. James D.Cherry (2000) “Encephalitis” Nelson Textbook of Pediatrics CDROM.
 4. Jay P.Sanford (1998) “Encephalitis” Harrison’s Principles of Internal Medicine.
 5. Lê Đức Hinh - Nguyễn Chương (2001) “ Viêm não Nhật Bản” thần kinh học trẻ em - nhà xuất bản Y học, trang 177-190.
 6. Lê Trọng Dụng nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh viêm não Herpes tại khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Nhi trung ương
 7. Phạm Nhật An, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Phương Hạnh, Nguyễn Thị Loan (2012) Nghiên cứu căn nguyên viêm não ở trẻ em tại bệnh viện Nhi trung ương 2011- 2012, Tạp chí Y học Việt Nam
 8. Stinley C (2004). “Coma in the patients in the PICU”. PICU courses, Society of Critical Care Medicine.
9. Võ Công Đồng (2007). “Hôn mê ở trẻ em“. Nhi khoa: Chương trình đại học – Bộ môn Nhi, Nhà xuất bản Y học, TPHCM, tập 2, tr. 423-438.

Tác giả bài viết: Bs. Nguyễn Thị Mai Thùy

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Văn bản mới

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn nghĩ sao về việc Bệnh viện Nhi Thanh Hóa mổ tim?

Đã triển khai

Đang triển khai

Chưa triển khai

Không biết

Thông tin liên lạc

ĐƯỜNG DÂY NÓNG

- Bệnh viện: 0966 81 12 12

- Bộ Y tế:        1900 9095